CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ XƯỞNG CƠ KHÍ BA SON - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ XƯỞNG CƠ KHÍ BA SON-
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
…………
TS. Trần Xuân Thảo

I. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH XƯỞNG CƠ KHÍ BA SON:

    Thuỷ xưởng, là một xưởng được lập ra từ năm 1790, dưới thời Nguyễn Ánh, trên mảnh đất là khu vực Ba Son ngày nay. Thuỷ xưởng ra đời lúc bấy giờ không phải vì mục tiêu thương mại mà vì nơi đây có vị trí chiến lược, là nơi Nguyễn Ánh có thể ra sức củng cố về quân sự và chính trị, gây thực lực, lấy Gia Định làm bàn đạp tiến quân trở ra Bắc đánh Tây Sơn.

    Về sau, công việc sản xuất của thuỷ xưởng không phải tập trung vào chiến thuyền như dưới thời Nguyễn Ánh trước đó, mà đóng và sửa chữa cả thuyền buôn (thương thuyền) ở Sài Gòn, thu hút nhiều thợ từ các thôn xóm, thợ trong nghề thủ công đóng và sửa chữa thuyền.

    Một năm sau khi chiếm thành Gia Định (17/2/1859), Pháp khôi phục thuỷ trại của nhà Nguyễn thành trạm sửa chữa tàu bè để phục vụ cho các cuộc hành quân xâm chiếm và bình định. Dần dần họ mở rộng qui mô của trạm thành một công xưởng có khả năng sửa chữa và đóng mới tàu thuyền. Ngày 28 tháng 4 năm 1863, thực dân Pháp ra quyết định thành lập xưởng đóng tàu Sài Gòn tại thuỷ xưởng Ba Son gọi là Arsenal de Saigon, (trong dân gian thường gọi là Ba Son). Là chi nhánh của thuỷ xưởng đóng tàu Toulon bên Pháp trực thuộc Bộ Hải quân Pháp, xưởng Ba Son tiếp nhận kỹ thuật châu Âu, được trang bị thiết bị tương đối hiện đại và quản lý theo cung cách công nghiệp phương Tây. Có lẽ Ba Son là cơ sở công nghiệp đầu tiên ở nước ta áp dụng chế độ làm việc 8 giờ mỗi ngày. Đội ngũ thợ đóng thuyền không còn theo tập quán truyền thống (đóng thuyền theo kiểu thủ công) mà bắt đầu làm quen và sử dụng hoạ đồ, phương pháp kỹ thuật – công nghệ mới, có chuyên gia phương Tây hướng dẫn. Như vậy, ở nước ta, chính thuỷ xưởng đã mở đầu việc tiếp cận văn minh công nghiệp, tiếp thu thành tựu văn hoá, khoa học kỹ thuật thế giới trong buổi đầu phát triển nghề đóng tàu thuyền trên đất Sài Gòn.

    Theo các tài liệu ghi lại, bến tàu nổi được hạ thủy vào tháng giêng năm 1866. Năm 1884, công nghiệp sửa chữa và đóng tàu phát triển thêm một bước bằng việc chính phủ Pháp cho xây dựng thêm một ụ tàu lớn để làm căn cứ sửa chữa tàu cho các hạm đội quân Pháp ở vùng Viễn Đông, đến năm 1888 thì hoàn thành. Cũng nhằm mục đích phục vụ hoạt động quân sự, thực dân Pháp đầu tư nhiều thêm tại Ba Son, mở rộng quy mô xây dựng, tạo lập hệ thống các công trình, xưởng, trại cùng trang thiết bị, máy móc mới, đồng bộ, kể cả máy công cụ lớn, cơ khí nặng, đáp ứng những đòi hỏi trong sửa chữa, đóng tàu quân sự lẫn tàu biển hoàn chỉnh.


Ụ tàu cổ trong xưởng Ba Son

    Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương. Ngày 12/9/1956 Pháp chuyển giao Ba Son lại cho hải quân chính quyền Sài Gòn. Dưới chế độ Sài Gòn cũ, Thủy xưởng Ba Son được đổi tên là Hải quân công xưởng, đặt trực thuộc Bộ Quốc phòng. Sau tháng 4/1975, Hải quân công xưởng được chính quyền Cách mạng tiếp quản và được đổi tên thành Liên hiệp xí nghiệp Ba Son, trực thuộc Bộ Quốc phòng, và hiện nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ba Son, bao gồm các đơn vị sản xuất và kinh doanh có quan hệ mật thiết với nhau về công nghiệp và tổ chức sản xuất liên ngành trong sửa chữa và đóng tàu, nhất là tàu Hải quân.

II. PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN BA SON VÀ DẤU ẤN TÔN ĐỨC THẮNG TRONG PHONG TRÀO CÔNG NHÂN SÀI GÒN – CHỢ LỚN NHỮNG NĂM 1920:

    Những năm tháng sống ở Pháp và tham gia phong trào đấu tranh của thuỷ thủ Pháp, Tôn Đức Thắng đã ý thức được sức mạnh của giai cấp công nhân. Từ những kinh nghiệm tích luỹ được khi làm thợ ở thành phố Toulon, miền Nam nước Pháp, năm 1920 khi trở về Sài Gòn, Tôn Đức Thắng đã sớm nhận thấy cần phải tổ chức ra Công hội nhằm tập hợp, tuyên truyền, giác ngộ, vận động công nhân thành tổ chức để đấu tranh chống áp bức, bóc lột, đòi độc lập dân tộc. Vào năm 1920, Công hội cách mạng bí mật đầu tiên ở Nam bộ đã được thành lập do Tôn Đức Thắng làm Hội trưởng. Công hội bí mật do Bác Tôn sáng lập ra đời với mục đích là đoàn kết, tương trợ, bênh vực quyền lợi của giai cấp công nhân, đấu tranh chống áp bức, bóc lột của bọn đế quốc và tay sai.

    Sự ra đời của Công hội bí mật vào những năm 1920- 1925 tại Sài Gòn - trung tâm công nghiệp của cả nước lúc bấy giờ - có ý nghĩa chính trị vô cùng quan trọng. Nó đánh dấu một thời kỳ mới trong lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, thời kỳ giai cấp công nhân Việt Nam bắt đầu ý thức về sức mạnh của giai cấp mình. Công hội bí mật là tổ chức tiến bộ nhất lúc bấy giờ, tuy phải hoạt động bí mật nhưng Công hội đã góp phần từng bước đưa giai cấp công nhân Việt Nam lên vũ đài chính trị và dần dần trở thành lực lượng chính trị độc lập, mở đầu cho một giai đoạn mới – giai đoạn đấu tranh có tổ chức, đưa phong trào đấu tranh của công nhân từ tự phát lên tự giác. Với hoạt động tích cực và lãnh đạo sáng tạo của nhóm trung kiên, đứng đầu là đồng chí Tôn Đức Thắng, Công hội bí mật đã phát triển và có cơ sở ở khắp Sài Gòn – Gia Định. Đến năm 1925, số hội viên lên đến 300 người.

    Tháng 8/1925, đã nổ ra cuộc bãi công của hơn 1000 công nhân Ba Son đòi tăng lương 20% và giữ chế độ nghỉ nửa giờ trong ngày lĩnh lương hàng tháng. Sau 9 ngày bãi công, thắng lợi đã thuộc về công nhân: chủ xưởng buộc phải tăng lương 10%, trả lương cho công nhân cả những ngày bãi công và không sa thải những người bãi công. Tiến hành cuộc bãi công trên, công nhân Ba Son còn kéo dài thời gian sửa chữa chiến hạm Misơlê của Pháp nhằm ngăn chặn không cho Pháp chở lính sang đàn áp cách mạng Trung Quốc (sau đó công nhân Ba Son tiếp tục lãn công kéo dài thời gian sửa chữa chiến hạm đến hơn 3 tháng). Bãi công của công nhân Ba Son đã tạo nên tiếng vang lớn trên diễn đàn quốc tế và tác động tích cực đến phong trào công nhân trong cả nước, đặc biệt là ở Sài Gòn – Gia Định.

    Cuộc bãi công của công nhân Ba Son vào tháng 8/1925 là cuộc bãi công đầu tiên của công nhân có sự lãnh đạo và tổ chức của Công hội với quy mô lớn, dài ngày. Tuy là cuộc bãi công đòi các yêu sách kinh tế, song nó đã mang tính chất chính trị rõ rệt. Đặc biệt, cuộc bãi công gắn với vai trò tổ chức, lãnh đạo của Tôn Đức Thắng - đã trở thành cột mốc lịch sử và là dấu son rạng ngời trong truyền thống đấu tranh của giai cấp công nhân và phong trào công nhân Việt Nam: đánh dấu bước chuyển mình thực sự từ trình độ tự phát sang trình độ tự giác, từ “giai cấp tự mình” thành “giai cấp cho mình”. Ý thức đoàn kết giai cấp, tinh thần quốc tế vô sản, năng lực và trình độ tổ chức đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam – thể hiện qua cuộc bãi công ở Ba Son – cho thấy phong trào công nhân đã thực sự có chuyển biến về chất.

    Năm 1926, Tôn Đức Thắng là một trong những người đầu tiên ở Nam Bộ gia nhập Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến giữa năm 1927 khi Kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên thành lập, Tôn Đức Thắng được cử làm Uỷ viên Ban chấp hành Kỳ bộ, rồi đảm nhiệm trọng trách Bí thư Thành bộ Sài Gòn (sau sáp nhập với Chợ Lớn thành Thành bộ Sài Gòn – Chợ Lớn). Công hội bí mật chính là cơ sở cho sự hình thành và phát triển tổ chức của Hội Việt nam Cách mạng Thanh niên ở Sài Gòn – Chợ Lớn và cả Nam Kỳ. Không những tự nguyện gia nhập, Tôn Đức Thắng còn giới thiệu các đồng chí trong nhóm trung kiên cùng gia nhập tổ chức này, đồng thời trực tiếp bồi dưỡng, phát hiện, giới thiệu nhiều thanh niên công nhân có tâm huyết sang Quảng Châu học tập, sau đó trở về hoạt động trong phong trào công nhân, tiêu biểu như: Nguyễn Văn Nghi, Nguyễn Văn Tư, Ngô Văn Năm, Nguyễn Văn Dung, Lê Văn Lưỡng. Những cán bộ này đều được lựa chọn từ phong trào công nhân của nhà máy Ba Son để trở thành những cán bộ lớp đầu tiên của phong trào đấu tranh của công nhân thành phố Sài Gòn.

    Tôn Đức Thắng đã sớm nhận thức rõ tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức chính trị cho hội viên Công hội bí mật, đã tổ chức Công hội liên lạc chặt chẽ với công nhân, thuỷ thủ tàu biển để nhận báo chí tiến bộ từ Pháp, Trung Quốc gửi về, như báo Nhân đạo, Người cùng khổ, Việt Nam hồn và những bài báo của Nguyễn Ái Quốc về Đông Dương, Người đã thường xuyên tổ chức cho anh em chèo thuyền ra sông đọc sách báo hoặc tự mình nói lại cho anh em nghe về những cuộc đấu tranh của công nhân thế giới. Tôn Đức Thắng đã tạo thêm một dấu ấn mới: nhờ những hoạt động tích cực của Công hội bí mật Sài Gòn và vai trò, uy tín của bản thân Tôn Đức Thắng, quá trình kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Nam Kỳ, ở Sài Gòn – Chợ Lớn đã diễn ra nhanh chóng và thuận lợi.

    Dưới sự lãnh đạo của Công hội và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phong trào đấu tranh của công nhân lao động ngày càng phát triển mạnh mẽ. Từ năm 1926 – 1928, tại Sài Gòn – Chợ Lớn đã diễn ra những cuộc đấu tranh liên tiếp của công nhân như: cuộc đấu tranh của công nhân viên chức Sở Bưu điện (1/1926), công nhân Trung tâm Ấn quán (4/1926), đình công của công nhân đề pô xe lửa và ga Sài Gòn (4/1926), Nhà băng Đông Dương (5/1926), Nhà máy Cao su (5/1926), nhà in Portail Sài Gòn (5/1927), nhà máy xay Chợ Lớn (2/1928), … Qua  các cuộc đấu tranh này, trình độ tổ chức của công nhân ngày càng được nâng cao, khả năng huy động công nhân nhiều đơn vị cơ sở tham gia cùng một lúc diễn ra ngày càng nhiều hơn. Các yêu sách được nêu lên trong nhiều cuộc đấu tranh cũng nói lên tính thống nhất và ý thức giai cấp rõ nét của phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn lúc bấy giờ. Từ đấu tranh cho các mục tiêu kinh tế tiến lên các mục tiêu chính trị, phong trào công nhân dần dần trở thành một lực lượng chính trị độc lập, ngày càng tỏ ra xứng đáng là nòng cốt trong phong trào giải phóng dân tộc. Đóng góp tích cực vào sự chuyển biến đó phải kể đến vai trò của người công nhân đầu đàn Tôn Đức Thắng.

III. CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ XƯỞNG CƠ KHÍ BA SON – THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA



    Ngày 12/8/1993, Bộ Văn hóa, Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ra Quyết định số 1034 QĐ/BT về xếp hạng Di tích lịch sử Xưởng cơ khí thuộc Xí nghiệp liên hợp (XNLH) Ba Son  là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

    XNLH Ba Son ngày nay là một xưởng sửa chữa và đóng tàu lớn, địa chỉ tại số 2 đường Tôn Đức Thắng, phường Bến Nghé, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, được giới hạn bởi sông Sài Gòn, đường Tôn Đức Thắng và đường Nguyễn Hữu Cảnh. Xưởng cơ khí mang số 323, đường số 12 trong khuôn viên xí nghiệp là nơi người thợ máy Tôn Đức Thắng (sau này là Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1969 đến năm 1980) từng làm thợ và hoạt động cách mạng những năm 1915-1928.


Di tích Xưởng cơ khí thuộc Xí nghiệp liên hợp Ba Son

    Nhận thức được ý nghĩa của việc phát huy tác dụng giáo dục truyền thống, trước hết là cho đội ngũ công nhân và nhân dân thành phố, thời gian vừa qua Xí nghiệp Liên hợp Ba Son đã phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức nhiều hình thức họat động để bảo tồn và phát huy giá trị di tích như: xây dựng tượng đài Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại xí nghiệp, thành lập học bổng Tôn Đức Thắng, xây dựng Nhà Truyền thống Ba Son – trưng bày lịch sử hình thành hơn một thế kỷ của Ba Son, về phong trào đấu tranh của công nhân trong đó có tư liệu, hiện vật liên quan đến Chủ tịch Tôn Đức Thắng, xuất bản sách về lịch sử Ba Son, ...  Tuy nhiên, do Di tích nằm trong đường nội bộ trong Xí nghiệp Ba Son – một cơ quan quốc phòng cộng với Di tích vẫn còn đang phục vụ cho hoạt động sản xuất nên việc tham quan tìm hiểu Di tích của công chúng vẫn còn những hạn chế nhất định: di tích (và cả Nhà truyền thống Ba Son) thường xuyên đóng cửa; khách tham quan hoặc cần tìm hiểu còn gặp nhiều khó khăn vì việc ra, vào Ba Son còn liên quan đến vấn đề an ninh quốc gia, nên di tích còn biệt lập với bên ngoài, tạo nên khoảng cách giữa di tích với công chúng. Mặc dù Ba Son là cái nôi của giai cấp công nhân, ra đời, tồn tại ở một thành phố có số lượng công nhân đông nhất cả nước nhưng trong thời gian qua, việc phối hợp giữa di tích Xưởng cơ khí Ba Son (sau đây gọi tắt là di tích Ba Son) với Liên đoàn Lao động thành phố và các quận, huyện, công đoàn các công ty, nhà máy, xí nghiệp, … để đưa công nhân đến tham quan, học tập và tìm hiểu về di tích Ba Son trên thực tế chưa thực hiện được. Bên cạnh đó, khoảng cách từ di tích đến Bảo tàng Tôn Đức Thắng (số 5, Tôn Đức Thắng, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh) chỉ khoảng 500m nhưng cả hai đơn vị cũng chưa phối hợp thực hiện tuyến tham quan giới thiệu nội dung trưng bày cuộc đời và sự nghiệp Chủ tịch Tôn Đức Thắng với di tích Ba Son như một trải nghiệm sinh động thêm cho khách tham quan bảo tàng, do những khó khăn nêu trên.

    Thực tế hiện nay, các di tích liên quan đến chủ tịch Tôn Đức Thắng không có nhiều, nhất là tại thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 2 di tích lịch sử cấp quốc gia liên quan đến Bác Tôn, đó là di tích Đình Bình Đông ở quận 8 (nơi Bác Tôn từng hoạt động cách mạng những năm 1920) và di tích Xưởng cơ khí Ba Son. Vấn đề đặt ra cần phải hết sức bảo vệ và phát huy tốt giá trị di tích để gìn giữ di sản của cha ông và tuyên truyền cho các thế hệ con cháu mai sau. Một số di tích lịch sử liên quan đến Bác Tôn ở các địa phương vừa qua đã được công nhận là “Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt” như: Khu lưu niệm thời niên thiếu Chủ tịch Tôn Đức Thắng ở xã Mỹ Hòa Hưng – thành phố Long Xuyên (An Giang), Nhà tù Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu); Di tích lịch sử Tân Trào (Tuyên Quang); An toàn khu (ATK) Định Hóa (Thái Nguyên). Các di tích nói trên đã phát huy tốt giá trị di tích trước, trong và sau khi được công nhận Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt.

    Tại thành phố Hồ Chí Minh, di tích Xưởng cơ khí Ba Son là cái nôi phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam từ buổi đầu hình thành giai cấp và đấu tranh giai cấp, là nơi người thợ máy Tôn Đức Thắng từng làm việc và hoạt động cách mạng trong thời gian dài, là minh chứng cho một nền công nghiệp tàu thuyền Việt Nam hàng trăm năm…. Từ nhiều năm trước đến nay, vấn đề bảo tồn di tích Ba Son gắn liền với Chủ tịch Tôn Đức Thắng đang được tranh luận. Các ngành chức năng đã có ý kiến khác nhau về việc bảo tồn khu vực này. Năm 2011, phía Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (thuộc Bộ Quốc phòng) – cơ quan chủ quản của Ba Son - cho rằng xưởng cơ khí sau nhiều thập kỷ sử dụng đã xuống cấp. Do phải thường xuyên cải tạo, nâng cấp nên đến nay cấu trúc công trình đã thay đổi. Giá trị bảo tồn cơ bản công trình đã không còn nguyên vẹn như một di tích. Đơn vị này đề xuất bảo tồn công trình xưởng cơ khí theo hướng bảo tồn không gian của Nhà máy Ba Son bằng mô hình, nhằm tái hiện, giữ gìn giá trị lịch sử cũng như lưu giữ hình ảnh kiến trúc khu Ba Son. Đồng thời, xây dựng Nhà truyền thống Ba Son tại khu Trung tâm phức hợp Sài Gòn - Ba Son – khu vực đô thị hiện đại với chức năng chính là thương mại dịch vụ, tài chính văn phòng, giải trí, văn hóa, giáo dục, nhà ở, khách sạn cao cấp... Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2009 đã có nhiều báo cáo, đề xuất, nêu ý kiến cần phải thực hiện việc bảo tồn, bảo vệ nguyên trạng về mặt bằng và không gian đối với di tích lịch sử quốc gia Xưởng cơ khí Ba son và công trình Ụ tàu lớn tại Ba Son theo Luật Di sản Văn hóa.

    “Phương án bảo tồn di tích địa điểm lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại Xí nghiệp Liên hiệp Ba Son” đã được Bộ Quốc Phòng gửi lấy ý kiến của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (công văn số 1453/BQP-CNQP ngày 18/5/2012 của Bộ Quốc phòng gửi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Ngày  10 tháng 07 năm 2012, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã có ý kiến thẩm định (theo công văn số 2287/BVHTTDL-DSVH) và “thống nhất với phương án bảo tồn di tích địa điểm lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại Xí nghiệp Liên hiệp Bason”. Theo đó, diện tích Xưởng cơ khí 1.949m2 (59,8m x 32,6) sẽ chỉ còn giữ lại 589m2, cải tạo một phần diện tích nhà xưởng cơ khí thành Nhà truyền thống XNLH Ba Son tại khu Trung tâm phức hợp Sài Gòn - Ba Son, tổ chức trưng bày sa bàn tổng thể xưởng cơ khí và mô hình ụ tàu. Công văn nói trên của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đề nghị “Bộ Quốc phòng thống nhất với Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về phương án” do “di tích lịch sử địa điểm lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh”. Đến nay (đầu tháng 12/2012), lãnh đạo Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chưa có văn bản chính thức nào thống nhất với phương án nêu trên.

    Từ thực trạng nói trên trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử địa điểm lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại Xí nghiệp Liên hiệp Ba Son, có thể nhận định và nêu lên một số vấn đề sau đây:

    1. Ba Son là một trong số ít các khu vực còn tồn tại các công trình kiến trúc, công nghiệp đặc biệt, đã từ lâu gắn liền với lịch sử phát triển và đặc trưng sông nước của thành phố Hồ Chí Minh, mà chứng tích hiện thời chỉ còn lại hai ụ tàu và khu nhà xưởng xây dựng vào cuối thế kỷ 19. Ụ tàu lớn là chứng tích của ngành đóng tàu Việt Nam từ “XƯỞNG THUỶ” thời chúa Nguyễn (thế kỷ 18) và được hiện đại vào thời Pháp, đây là một nội dung quan trọng góp phần hình thành lịch sử văn hoá của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả khu vực Nam bộ nói chung. Đó không chỉ là sự phát triển của một ngành công nghiệp mà đó còn là bằng chứng của một nền kinh tế biển, góp phần khẳng định Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền biển từ lâu đời. Đồng thời nơi đây gắn liền với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, từng ghi dấu hoạt động đấu tranh cách mạng của những người con ưu tú của Tổ quốc xuất thân là công nhân Ba Son và đã được đặt tên đường ở thành phố Hồ Chí Minh như: Tôn Đức Thắng, Ngô Văn Năm, Trần Đình Xu, Lý Chính Thắng, Đoàn Văn Bơ, Nguyễn Văn Nghi, Nguyễn Bảo, Nguyễn Văn Lượng, Nguyễn Đình Chính, Nguyễn Thị Nhỏ, v.v…. Phương án cải tạo một phần nhà xưởng thành không gian trưng bày các hình ảnh, hiện vật gắn liền với lịch sử Ba Son và hoạt động của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, trong đó có một phần di tích của ụ tàu cũ và sa bàn tổng thể xưởng cơ khí, việc dự kiến tháo dỡ phần lớn công trình di tích Xưởng cơ khí và hoàn toàn không xem xét việc giữ lại ụ tàu lớn là không đúng ý nghĩa của việc bảo tồn và phát triển và vi phạm nghiêm trọng Luật Di sản Văn hoá. Do đó, Xưởng Cơ khí Ba Son và Ụ tàu không thể bị xâm phạm, bị thu nhỏ hay làm mô hình, hoặc chỉ còn trong tài liệu, phim ảnh. Không ai có thể làm một việc là bứng “cây cao bóng cả” mà gốc của nó đã cắm sâu trong lòng đất hàng trăm năm, để đem đi trồng lại ở chổ mới, còn mảnh đất cũ của nó, dù có sử dụng cho công trình đạt hiệu quả cao mấy, thì cũng không sao bù lại được sự mất mát, vì nó chỉ có một, là tài sản vô giá!

    2. Lịch sử, truyền thống Ba Son là di sản mà không phải xí nghiệp nào của bất cứ ngành nào, ở đâu cũng có được bề dày lịch sử truyền thống đó, là hành trang không thể thiếu của những người thợ, người lính Ba Son, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động hôm qua, hôm nay và mai sau, cần phải bảo vệ và bảo vệ khẩn cấp, nhằm giáo dục cho các thế hệ về truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất của các thế hệ cha anh, ý thức giữ gìn di sản do ông cha để lại; để các thế hệ hôm nay và mai sau đọc lịch sử đó không chỉ trên những trang giấy hay xem mô hình mà còn trực tiếp được đọc và tận mắt nhìn thấy Ba Son thực với chính nó, trên mảnh đất Ba Son lịch sử, cùng với con người Ba Son, với giá trị Ba Son! Và quan trọng nhất là không làm TIỀN LỆ không tốt cho các trường hợp quy hoạch, xây dựng xâm phạm di tích, biến di tích thành mô hình, chỉ nghĩ đến lợi ích một chiều về kinh tế mà biến không gian di tích thành trung tâm thương mại, quên đi “hồn thiêng” của một vùng đất - nhất là đối với một di tích lịch sử cấp quốc gia có giá trị đặc biệt về lịch sử - văn hóa, nơi gần như duy nhất ở nước ta còn giữ lại được những chứng tích vật chất về sự hình thành và phát triển ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam; là di tích có ý nghĩa lớn về sự ra đời và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động; một di tích ghi dấu ấn hoạt động của CHỦ TỊCH NƯỚC TÔN ĐỨC THẮNG như di tích Ba son.

    3. Ba Son mang trong mình tình cảm, ý chí và bản lĩnh của giai cấp công nhân Việt Nam, có được người thợ tiêu biểu là: Tôn Đức Thắng. Người đã lãnh đạo tổ chức công hội đầu tiên và phong trào công nhân Ba Son, đóng vai trò nòng cốt, đi đầu trong phong trào công nhân thành phố Sài Gòn. Thiết nghĩ, các bộ, ngành chức năng và lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh cần có phương án bảo tồn nguyên trạng cũng như có giải pháp tu bổ nâng cấp để hình thành tại không gian Ba Son một “Bảo tàng ngành TÀU THUỶ của Việt Nam”; xây dựng mới Bảo tàng Tôn Đức Thắng gần với di tích Xưởng cơ khí, Ụ tàu; biến nơi đây thành không gian DI SẢN gắn với quảng trường Tôn Đức Thắng, cho người dân vào tham quan, để họ biết nơi đây có xưởng thủy, có ụ tàu, có “Nhà máy Bác Tôn”.

    Tóm lại, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử Xưởng cơ khí Ba Son đang đứng trước nhiều thách thức của sự phát triển và yếu tố bền vững, của quá trình hiện đại hóa và việc gìn giữ các giá trị truyền thống của dân tộc. Để phát huy giá trị nhằm giáo dục truyền thống - trước hết là cho đội ngũ công nhân nâng cao sự hiểu biết về lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của giai cấp mình, để các tầng lớp nhân dân hiểu biết về nhân cách của một trong những lãnh tụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam nói chung và của giai cấp công nhân nói riêng, từ đó nâng cao thêm niềm tự hào và thúc đẩy phong trào thi đua xây dựng một thành phố giàu truyền thống đấu tranh anh hùng, bất khuất và vinh dự mang tên Bác Hồ kính yêu – cần phải bắt nguồn từ sự thay đổi trong nhận thức về tầm quan trọng đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích, sự hướng dẫn, triển khai thi hành Luật Di sản Văn hóa một cách đồng bộ giữa các cấp, bộ, ngành và đông đảo người dân. Nếu bảo tồn tốt khu di tích Xưởng cơ khí Ba Son theo đúng quy định của Luật Di sản Văn hóa, đúng phương pháp khoa học về bảo tồn, đổi mới công tác trưng bày Nhà truyền thống, … thì đây sẽ là một địa chỉ lịch sử - văn hóa hấp dẫn du khách trong và ngoài nước, sẽ đóng góp tích cực và có hiệu quả vào việc giáo dục truyền thống, phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của thành phố Hồ Chí Minh.

   

Các tin khác